Yêu luật là trang web trả lời mọi thắc mắc của bạn về pháp luật.

Post Widget 1

Heath Tips

  • In enim justo, rhoncus ut, imperdiet a
  • Fringilla vel, aliquet nec, vulputateDonec pede justo,  eget, arcu. In enim justo, rhoncus ut, imperdiet a, venenatis vitae, justo.Nullam dictum felis eu pede mollis pretium.

Post Widget 2

Tiểu luận môn Kinh tế vĩ mô – ngành Luật Kinh tế

Đề bài

Ba điểm nhấn điều hành chính sách tiền tệ

Điều được đánh giá cao trong điều hành chính sách tiền tệ 6 tháng qua, là đã giữ được ổn định tỷ giá trong bối cảnh cán cân thương mại thâm hụt, trong khi thị trường quốc tế không ngừng biến động, tác động không nhỏ đến diễn biến trên thị trường tài chính quốc tế và lượng kiều hối chảy vào Việt Nam.

Diễn biến trên thị trường tiền tệ trong 6 tháng đầu năm 2017 cho thấy, các mục tiêu đặt ra trong điều hành chính sách tiền tệ của năm nay đang từng bước tiến vững chắc đến đích. Trong đó, lạm phát được kiểm soát ở mức sát mục tiêu khi CPI 5 tháng bình quân 4,47%, lãi suất trên thị trường ổn định, tín dụng tăng trưởng 5 tháng đạt 6,8% cao hơn mức cùng kỳ năm ngoái, thanh khoản hệ thống ngân hàng tiếp tục được đảm bảo, hệ thống các TỔ CHỨC TÍN DỤNG hoạt động an toàn… Tái cơ cấu đã có những bước tiến đầu tiên quan trọng trong việc xử lý nợ xấu và điều này sẽ tiếp tục đạt được những kết quả tốt hơn khi khung pháp lý về xử lý nợ xấu đã được Quốc hội phê chuẩn.

Điều được đánh giá cao trong điều hành chính sách tiền tệ 6 tháng qua, là đã giữ được ổn định tỷ giá trong bối cảnh cán cân thương mại thâm hụt, trong khi thị trường quốc tế không ngừng biến động, tác động không nhỏ đến diễn biến trên thị trường tài chính quốc tế và lượng kiều hối chảy vào Việt Nam. Đâu là mấu chốt cho sự ổn định tỷ giá này? Thứ nhất, cơ chế điều hành tỷ giá trung tâm của NHNN, cùng với sự điều hành bám sát những biến động trên thị trường quốc tế và chủ động định hướng thị trường đã tạo ra được tính thị trường hóa trong tỷ giá là yếu tố quan trọng giữ cho tỷ giá ổn định.

Xét tỷ giá giữa VND với USD từ đầu năm đến nay cho thấy có sự biến động nhẹ. Thời điểm tăng cao rơi vào tuần đầu của tháng 3/2017, ngày cao nhất là 22.805 đồng/USD (tỷ giá mua vào của Vietcombank), sau đó có xu hướng giảm dần, đến ngày 27/6 ở mức 22.700 đồng/USD. Sự biến động tỷ giá VND với USD trong mối tương quan với chỉ số DXY trong 6 tháng qua là thuận chiều, điều này cho thấy tính thị trường trong tỷ giá ngày càng cao.

Thứ hai, sự ổn định tỷ giá còn là kết quả của việc phối hợp đồng bộ, chặt chẽ trong điều hành lãi suất VND trên thị trường tiền tệ và thị trường trái phiếu Chính phủ. Thanh khoản của hệ thống các TỔ CHỨC TÍN DỤNG, sự ổn định của thị trường vàng… tất cả điều đó đã góp phần giảm áp lực đáng kể lên tỷ giá. Thứ ba, chính sự ổn định tỷ giá cùng với nỗ lực và kết quả đạt được trong quá trình tái cơ cấu hệ thống ngân hàng là động lực thu hút dòng vốn đầu tư gián tiếp tăng đáng kể trong 6 tháng đầu năm 2017, góp phần gia tăng lượng ngoại tệ vào Việt Nam.

Có thể nói việc điều hành chính sách tiền tệ đã tạo được sự cộng hưởng hiệu quả giữa các công cụ chính sách tiền tệ, tính “looking forward” ngày càng rõ nét trong điều hành chính sách tiền tệ. Mặc dù không ít thách thức trong 6 tháng đầu năm 2017 cho hệ thống ngân hàng, song những gì đạt được trong 6 tháng đầu năm sẽ tạo đà vững chắc cho việc thực hiện mục tiêu điều hành chính sách tiền tệ năm 2017 của NHNN.

Nguồn: http://cafef.vn/ba-diem-nhan-dieu-hanh-chinh-sach-tien-te-20170628111601715.chn

  1. Anh (chị) hãy cho biết nguyên lý sự tác động của chính sách tiền tệ đến tỷ giá hối đoái.
  2. Anh (chị) hãy cho biết thực trạng điều hành chính sách tiền tệ của Việt Nam trong giai đoạn 2010 – 2018.
  3. Anh (chị) hãy bình luận việc thực hiện chính sách tiền tệ tác động tới tỷ giá hối đoái trong bài báo được nêu trên.

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU.

NỘI DUNG.

1.  Nguyên lý sự tác động của chính sách tiền tệ đến tỷ giá hối đoái.

a. Chính phủ theo đuổi chế độ tỷ giá hối đoái cố định.

b. Chính phủ Chính phủ theo đuổi chế độ tỷ giá hối đoái thả nổi.

c.. Chế độ tỷ giá thả nổi có quản lí.

2. Thực trạng điều hành chính sách tiền tệ của Việt Nam trong giai đoạn 2010 – 2018.

3. Bình luận việc thực hiện chính sách tiền tệ tác động tới tỷ giá hối đoái trong bài báo được nêu trên.

KẾT LUẬN.

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.

PHỤ LỤC.

MỞ ĐẦU

Tỷ giá hối đoái được hiểu là giá cả của một đơn vị tiền tệ của một nước tính bằng tiền tệ của một nước khác. Thông thường, thuật ngữ “tỷ giá hối đoái” được ngầm hiểu là số lượng đơn vị tiền nội tệ cần thiết để mua một đơn vị ngoại tệ. Để ổn định nền kinh tế trong nước thì phải điều chỉnh giá đồng nội tệ sao cho hợp lý. Nếu đồng nội tệ lên giá sẽ làm cho hàng hóa nhập khẩu rẻ hơn, do đó người dân có xu hướng tiêu dùng hàng nhập khẩu nhiều hơn, làm hạn chế hoạt động xuất khẩu, thu hẹp sản xuất trong nước, mặc dù giảm lạm phát nhưng thất nghiệp gia tăng. Nếu đồng nội tệ mất giá, thì lạm phát lên cao.Việc điều chỉnh tỷ giá hối đoái được thực hiện thông qua sự tác động của các công cụ của chính sách tiền tệ. Vì vậy, thực chất của hoạt động điều hành tỷ giá hối đoái chính là hoạt động điều hành chính sách tiền tệ của Chính phủ.

Xuất phát từ lí thuyết thực hiện chính sách tiền tệ tác động tới tỷ giá hối đoái, em quyết định chọn đề tài này nhằm làm sáng tỏ những vấn đề lí luận và thực tiễn xoay quanh đề tài này. Do giới hạn của tiểu luận cũng như hạn chế về kiến thức chuyên môn và kiến thức xã hội, trong quá trình làm bài không thể tránh khỏi những sai sót. Em mong nhận được sự góp ý và nhận xét của thầy cô tổ bộ môn Kinh tế học để giúp em hoàn thiện kiến thức của môn học Kinh tế học vĩ mô.

Em xin chân thành cảm ơn!

*******

NỘI DUNG

1. Nguyên lý tác động của chính sách tiền tệ đến tỷ giá hối đoái.

Trong bài giả định quốc gia theo đuổi chính chế độ tỷ giá hối đoái cố định hoặc thả nổi, thị trường mở, có ngoại thương, tư bản tự do lưu thông. Chúng ta sẽ xem xét dựa vào mô hình IS – LM.

a. Chính phủ theo đuổi chế độ tỷ giá hối đoái cố định(1).

Tại điểm E1, cân bằng thị trường tiền tệ và thị trường hàng hóa (IS1 cắt LM1 tại E1), sản lượng Y1. Ngân hàng trung ương thực hiện chính sách tiền tệ mở rộng (mua trái phiếu Chính phủ, giảm tỉ lệ dự trữ bắt buộc, giảm lãi suất chiết khấu) làm cho cung tiền tăng lên, đường LM1 dịch chuyển sang phải (LM2 cắt IS1 tại E’), sản lượng Y’>Y1. Tại E’, lãi suất là i’ < i*, dòng vốn chảy từ trong nước ra nước ngoài, các nhà đầu tư bán tháo tài sản để mua ngoại tệ, làm dư cầu ngoại tệ, gây áp lực làm tăng tỉ giá ngoại tệ. Lúc này Chính phủ phải lấy dự trữ ngoại tệ để bán cho các nhà đầu tư, đồng thời thu về nội tệ, một lượng tiền bị rút khỏi lưu thông, đường LM2 dịch chuyển về bên trái (LM1), lãi suất i’ tăng dần đến i*, Chính phủ tiếp tục bán ra ngoại tệ cho đến khi lãi suất trở về i*, điểm cân bằng của thị trường tiền tệ và hàng hóa được tái lập ở E1, mức sản lượng trở về Y1.

Tương tự, giả sử thị trường tiền tệ và hàng hóa cân bằng tại E2 (IS2 cắt LM2), sản lượng Y2. Ngân hàng trung ương thực hiện chính sách tiền tệ thu hẹp (bán trái phiếu Chính phủ, tăng tỉ lệ dự trữ bắt buộc, tăng lãi suất chiết khấu) làm cho cung tiền giảm xuống, đường LM2 dịch chuyển sang trái (LM1 cắt IS2 tại E”), sản lượng Y”<Y2. Tại E”, lãi suất là i” > i*, thu hút dòng vốn từ nước ngoài đổ về trong nước, các nhà đầu tư bán ngoại tệ, mua nội tệ, làm dư cung ngoại tệ, gây áp lực làm giảm tỉ giá ngoại tệ. Lúc này Chính phủ mua hết lượng ngoại tệ để giữ nguyên tỉ giá, đồng thời một lượng nội tệ được bơm vào thị trường, đường LM1 dịch chuyển về bên phải (LM2), lãi suất i’ giảm dần đến i*, Chính phủ tiếp tục thu mua ngoại tệ cho đến khi lãi suất trở về i*, điểm cân bằng của thị trường tiền tệ và hàng hóa được tái lập ở E2, mức sản lượng trở về Y2.

Như vậy, chính sách tiền tệ trong thị trường mở, chế độ tỉ giá hối đoái cố định, tư bản tự do lưu thông không phát huy được hiệu quả, không có tác dụng với nền kinh tế.


[1] Xem phụ lục 1.

b. Chính phủ Chính phủ theo đuổi chế độ tỷ giá hối đoái thả nổi(2).

Giả sử ban đầu thị trường tiền tệ và hàng hóa cân bằng, IS1 cắt LM1 tại E1, mức sản lượng là Y1. Ngân hàng trung ương thực hiện chính sách tiền tệ mở rộng

Giả sử ban đầu thị trường tiền tệ và hàng hóa cân bằng, IS1 cắt LM1 tại E1, mức sản lượng là Y1. Ngân hàng trung ương thực hiện chính sách tiền tệ mở rộng (mua trái phiếu Chính phủ, giảm tỉ lệ dự trữ bắt buộc, giảm lãi suất chiết khấu) làm cho cung tiền tăng lên, đường LM1 dịch chuyển sang phải (LM2 cắt IS1 tại E’), sản lượng Y’>Y1. Tại E’, lãi suất là i’ < i*, dòng vốn chảy từ trong nước ra nước ngoài, các nhà đầu tư bán tháo tài sản để mua ngoại tệ, làm dư cầu ngoại tệ, gây áp lực làm tăng tỉ giá ngoại tệ. Khi tỷ giá ngoại tệ tăng lên kích thích xuất khẩu, xuất khẩu ròng NX = X – IM tăng lên, đồng thời, khi lãi suất giảm cũng sẽ làm cho tiêu dùng (C) và đầu tư (I) trong nước tăng lên, làm cho tổng cầu AD tăng lên, đường IS1 dịch chuyển sang bên phải (IS2), làm lãi suất i’ tăng lên cho đến khi về với mức i* ban đầu. Lúc này IS2 cắt LM2 tại E2, sản lượng Y2 > Y’ > Y1.

Như vậy chính sách tiền tệ trong thị trường mở, chế độ tỉ giá linh hoạt, tư bản tự do vận động làm tăng sản lượng của cả nền kinh tế mà vẫn giữ nguyên lãi suất. Tuy nhiên, những ưu điểm đó chỉ phát huy trong ngắn hạn. Về dài hạn, giá cả và tiền lương sẽ tăng lên làm cho cân bằng tiền tệ thực tế giảm, đường LM2 lại dịch trở lại vị trí cũ (LM1), lãi suất tăng dần, thu hút đầu tư nước ngoài, tỉ giá ngoại tệ giảm xuống, tổng cầu AD giảm xuống, đường IS2 lại trở về vị trí cũ (IS1), điểm cân bằng của thị trường tiền tệ và hàng hóa tái lập ở E1, sản lượng lại về mức sản lượng Y1 cũ.

Đối với chính sách tiền tệ thu hẹp sẽ diễn biến ngược lại.


[2] Xem phụ lục 2.

c. Chế độ tỷ giá thả nổi có quản lí.

Ngân hàng trung ương sẽ không can thiệp điều chỉ tỷ giá nếu tỷ giá vẫn vận động trong biên độ cho phép.

2. Thực trạng điều hành chính sách tiền tệ của Việt Nam trong giai đoạn 2010 – 2018.

Từ ngày 26/2/1999 đến 31/12/2015, chế độ tỷ giá của Việt Nam là chế độ tỷ giá thả nổi có kiểm soát.

Năm 2010 là năm đầu tiên vượt qua khủng hoảng với mức tăng trưởng GDP đạt 6,78%. Nhờ chính sách kinh tế phù hợp mà Việt Nam là một trong những nước sớm vượt qua khủng khoảng. Sau khủng hoảng, các đồng tiền đều mất giá, xu hướng của người dân muốn nắm giữ ngoại tệ mạnh, kim loại quý, gây áp lực làm suy giảm dự trữ ngoại hối Nhà nước. Chính vì vậy chính sách tiền tệ trong thời gian này là chính sách tiền tệ mở rộng: giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc, giảm lãi suất chiết khấu để kích thích các hoạt động tín dụng, thực hiện cơ chế cho vay theo lãi suất thỏa thuận nhưng kiềm chế dưới mức 14%/năm…

Bên cạnh đó, Nhà nước cũng có tác động để nâng tỷ giá ngoại tệ lên nhằm hạn chế tác động của xuất siêu. Trong năm 2010, Ngân hàng Nhà nước đã có 02 lần điều chỉnh tăng tỉ giá USD/VND bình quân liên ngân hàng; quy định mức lãi suất tiền gửi tối đa bằng USD 1%/năm của tổ chức kinh tế tại tổ chức tín dụng; kiểm soát chặt chẽ việc mua, cho vay, thanh toán ngoại tệ …

Ngoài ra còn thực hiện các giải pháp hỗ trợ khu vực nông nghiệp, nông thôn và gói kích thích kinh tế.

Chính sách tiền tệ năm 2010 bên cạnh những thành công gặt hái được, thì vẫn còn nhiều hạn chế. Năm 2010 lạm phát tăng cao, tăng trưởng GDP thấp hơn mục tiêu đề ra.

Sang năm 2011, lạm phát tăng nhanh theo đà của năm trước, vượt mức cho phép đề ra. Vì vậy Ngân hàng Nhà nước thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt vì mục tiêu kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô. Tất yếu lãi suất USD sẽ cao hơn mặt bằng chung thế giới. Để ổn định tỷ giá và thị trường ngoại tệ, Ngân hàng Nhà nước đã thay đổi cơ chế tỷ giá và can thiệp sâu vào thị trường ngoại tệ bằng những biện pháp mua bán, duy trì chính sách chênh lệch lãi suất VNĐ và USD nhằm đảm bảo nắm giữ VNĐ có lợi hơn so với USD. Cụ thể, ngày 11/2/2011, Ngân hàng Nhà nước ban hành Quyết định 230/QĐ-NHNN điều chỉnh tỷ giá bình quân liên ngân hàng lên 20,693 VNĐ, tăng 9.3% so với mức 18,932 VNĐ trước đó, đồng thời thu hẹp biên độ giao dịch từ ±3% xuống ±1%. Ngân hàng Nhà nước cũng ban hành Thông tư số 07/TT-NHNN ngày 24/3/2011 thu hẹp đối tượng cho vay ngoại tệ của tổ chức tín dụng đối với khách hàng vay là người cư trú.

Tiếp đó, Ngân hàng Nhà nước ban hành hàng loạt văn bản quy định giảm trần lãi suất huy động USD từ 6%/năm xuống 2%/năm, điều chỉnh tăng dự trữ bắt buộc tiền gửi ngoại tệ đối với các tổ chức tín dụng thêm 2% lên 6%, mở rộng đối tượng doanh nghiệp Nhà nước thực hiện bán ngoại tệ cho các tổ chức tín dụng, chuyển dần quan hệ huy động – cho vay ngoại tệ trong nước của tổ chức tín dụng sang quan hệ mua bán ngoại tệ, xử lý các giao dịch ngoại tệ bất hợp pháp trên thị trường tự do.

Qua đó, cuối năm 2011, tỷ giá đạt 20,282 VNĐ, tăng 10.01% so với cùng kỳ năm trước. Cán cân thanh toán tổng thể thặng dư khoảng 3.1 tỉ USD, so với mức thâm hụt 3.07 tỉ USD vào năm 2010.

Từ tháng 03/2012 đến hết năm 2015, Ngân hàng Nhà nước thực hiện chính sách tiền tệ mở rộng.

Dấu ấn của chính sách tiền tệ của giai đoạn 2011 – 2015 là kéo giảm được mặt bằng lãi suất(3). Ngân hàng Nhà nước đã quyết định phải ổn định lại mặt bằng lãi suất thông qua áp dụng cơ chế kiểm soát lãi suất trực tiếp (quy định trần lãi suất huy động và trần lãi suất cho vay). Việc áp dụng trần lãi suất huy động đã giúp giảm động cơ cạnh tranh không lành mạnh giữa các tổ chức tín dụng, hỗ trợ siết chặt kỷ luật thị trường. Trong khi đó, việc quy định trần lãi suất cho vay, đặc biệt đối với lĩnh vực ưu tiên, góp phần gia tăng cơ hội tiếp cận vốn cho các doanh nghiệp.


[3] Xem phụ lục 3.

Bên cạnh những ứng biến linh hoạt trong việc sử dụng công cụ trần lãi suất, các mức lãi suất chính sách cũng có những bước chuyển biến căn bản theo hướng chủ động, dẫn dắt thị trường và được điều chỉnh linh hoạt trên cơ sở bám sát diễn biến kinh tế vĩ mô và tiền tệ trong từng thời kỳ. Điều này đã góp phần quan trọng vào việc thực hiện thành công nhiệm vụ giảm mặt bằng lãi suất để tháo gỡ khó khăn về chi phí vay vốn cho doanh nghiệp, nhưng vẫn đảm bảo kiểm soát được lạm phát, ổn định thị trường tiền tệ.

Việc điều hành chính sách tỷ giá mặc dù phải chịu nhiều sức ép và các cú sốc bên ngoài, song Ngân hàng Nhà nước đã thể hiện được bản lĩnh và kiên định trong từng thời điểm, đồng thời phối hợp đồng bộ với chính sách lãi suất và các công cụ chính sách tiền tệ, quản lý ngoại hối và công tác truyền thông để ổn định thị trường ngoại tệ, nâng cao niềm tin vào đồng Việt Nam. Ngân hàng Nhà nước  đã chủ động công bố định hướng điều hành tỷ giá trong từng thời kỳ. Trên cơ sở theo dõi sát diễn biến cung-cầu ngoại tệ, Ngân hàng Nhà nước điều hành linh hoạt tỷ giá, kết hợp với các biện pháp như giảm trạng thái ngoại tệ, thu hẹp đối tượng cho vay bằng ngoại tệ, kịp thời mua bán ngoại tệ để can thiệp ổn định thị trường, tăng cường công tác truyền thông để ổn định tâm lý thị trường, hỗ trợ ổn định tỷ giá và thị trường ngoại hối. Tiếp tục triển khai các biện pháp để góp phần ngăn chặn tình trạng đô la hóa, phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành tăng cường công tác thanh tra, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm đối với hoạt động kinh doanh ngoại tệ. Nhờ đó, tỷ giá và thị trường ngoại tệ liên tục ổn định, các nhu cầu ngoại tệ hợp pháp của tổ chức và cá nhân được các tổ chức tín dụng đáp ứng đầy đủ, kịp thời. Vị thế và lòng tin vào VND ngày càng được củng cố, tăng cường. Tình trạng đô la hóa giảm mạnh, ngoại tệ tập trung chủ yếu vào hệ thống ngân hàng và Ngân hàng Nhà nước đã mua được số lượng ngoại tệ lớn, gia tăng dự trữ ngoại hối quốc gia.

Không chỉ giữ được lòng tin trong người dân và các doanh nghiệp, trong những thành công của chính sách tiền tệ cũng được các tổ chức, nhà đầu tư nước ngoài đánh giá cao, đồng thời là một trong những yếu tố quan trọng để các tổ chức xếp hạng quốc tế nâng mức xếp hạng quốc gia của Việt Nam.

Ngoài ra, Ngân hàng Nhà nước cũng tích cực sử dụng công cụ nghiệp vụ thị trường mở trong việc điều tiết mức cung tiền một cách nhịp nhàng để hỗ trợ và đảm bảo thanh khoản hợp lý, nhằm hạn chế sự dịch chuyển của dòng tiền, đặc biệt vào thời điểm tỷ giá có biến động và thanh khoản hệ thống dư thừa.

Sau cơn sốt thị trường vàng năm 2011, Chính phủ đã có những tác động “mạnh tay”, trong đó ghi dấu ấn quan trọng nhất là ban hành khuôn khổ pháp lý mới về quản lý hoạt động kinh doanh vàng (Nghị định 24/2012/NĐ-CP, ngày 03/04/2012 để thay thế Nghị định 174 về quản lý thị trường vàng), tạo lập khuôn khổ pháp lý mới nhằm tổ chức, sắp xếp lại thị trường vàng, giao cho Ngân hàng Nhà nước cấp phép đối với hoạt động kinh doanh mua, bán vàng miếng; tổ chức sản xuất vàng miếng; tổ chức xuất khẩu vàng nguyên liệu, nhập khẩu vàng nguyên liệu để sản xuất vàng miếng và tổ chức huy động và mua, bán vàng miếng. Những thay đổi về mặt pháp lý như trên đã đáp ứng sự thay đổi của thực tiễn, tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước, hạn chế tác động bất lợi của hoạt động kinh doanh vàng đến chính sách tiền tệ, tỷ giá, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người dân và đó cũng chính là bước tiến quan trọng trong lộ trình chống vàng hóa trong nền kinh tế(4).

Kết thúc năm 2015, chính sách tiền tệ đã có những tác động đáng kể góp phần phục hồi nền kinh tế, lạm phát xuống tấp kỉ lục trong hơn 5 năm, tăng trưởng kinh tế 2014 – 2015 đều vượt mức kết hoạch, hoạt động tín dụng trở lại nhộn nhịp.

Bước sang giai đoạn 2016 – 2018, chính sách tiền tệ tiếp tục được phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa đã vừa giúp ổn định kinh tế vĩ mô, vừa góp phần kiểm soát nợ công, đồng thời hỗ trợ tăng trưởng và kiểm soát lạm phát đạt mục tiêu đề ra. Đầu năm 2016, Ngân hàng Nhà nước ban hành chính sách điều hành tỷ giá mới theo cơ chế tỷ giá trung tâm giữa VND và USD, tỷ giá tính chéo giữa VND và một số ngoại tệ với cơ chế linh hoạt, biến động hàng ngày theo sát diễn biến thị trường trong, ngoài nước và phù hợp với mục tiêu chính sách tiền tệ đã giúp hạn chế các cú sốc bên ngoài và giảm tâm lý găm giữ ngoại tệ, hỗ trợ cho sự ổn định của tỷ giá và thị trường ngoại tệ. Nhờ đó mà thị trường ngoại hối được “bình ổn”, tỉ lệ trượt giá của đồng tiền Việt Nam vẫn ở trong giới hạn cho phép, niềm tin vào VND và hệ thống ngân hàng được nâng cao. Tỷ giá USD/VND vẫn ổn định bất chấp sự kiện Brexit và cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) quyết định tăng lãi suất cơ bản USD lên mức từ 0,5-0,75% vào cuối năm 2016. Chiến tranh thương mại Mỹ – Trung, bối cảnh kinh tế thế giới năm 2018 đã làm cho đồng tiền của nhiều quốc gia mất giá, tuy nhiên, trong khi đồng tiền của các nước trong khu vực trượt giá từ 5 – 14%, mức trượt giá của đồng tiền Việt Nam chỉ là 2,6%(5). Ngoài ra, giai đoạn 2016 – 2018, dự trữ ngoại tệ của nước ta tăng lên đáng kể.


[4] Xem phụ lục 4.

[5] Xem phụ lục 5.

Tuy nhiên, cân đối kinh tế vĩ mô gây tác động không nhỏ đến sự ổn định của tỷ giá. Trên góc độ lý thuyết, khi ngân sách nhà nước thâm hụt quá mức sẽ dẫn đến hiệu ứng lãi suất tăng và VND lên giá; việc ngân sách nhà nước huy động từ nước ngoài để bù đắp thâm hụt ngân sách, khi cần ngoại tệ để trả nợ, sẽ làm VND mất giá (ngân sách nhà nước dùng VND để mua ngoại tệ để trả nợ khi đến hạn). Khi đó, chi phí nợ công cũng tăng hơn dự tính hiện nay.

Lãi suất vẫn tiếp tục được giữ ổn định. Đầu năm 2016, các ngân hàng thương mại tăng lãi suất cho vay, tuy nhiên sau đó đã giảm xuống đáp ứng chính sách hỗ trợ sản xuất, kinh doanh. Việc chuyển đổi từ quan hệ huy động – cho vay ngoại tệ sang quan hệ mua bán ngoại tệ tiếp tục được đẩy mạnh. Bên cạnh đó, chính sách chênh lệch lãi suất giữa USD và VND được điều chỉnh linh hoạt, làm cho USD giảm bớt độ hấp dẫn, từ đó góp phần chống đô la hóa nền kinh tế.

Đồng thời thị trường vàng không còn “dậy sóng” như giai đoạn trước, nguồn vốn bằng vàng có xu hướng chuyển thành tiền và các tài sản khác. Sự bùng nổ của cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã có tác động thúc đẩy việc thực hiện giao dịch điện tử tăng lên, tỷ lệ nắm giữ tiền mặt giảm xuống nhiều hơn so với thời kì trước. Hệ thống ngân hàng tăng cường công tác bảo mật dữ liệu nhằm đem đến sự an toàn cho các giao dịch.

Kể từ năm 2012, Chính phủ Việt Nam ưu tiên mục tiêu kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô. Có thể nói, chính sách tiền tệ phát huy tác dụng và đạt được mục đích kiểm soát lạm phát, ổn định thị trường ngoại hối, tăng trưởng kinh tế. Riêng về tỉ giá USD/VND, nhìn chung từ năm 2010 đến 2018, tỷ giá liên tục tăng, có một số thời điểm tỷ giá tăng trưởng mạnh, có một số thời điểm lại được duy trì ổn định tùy thuộc vào chính sách tiền tệ và bối cảnh của nền kinh tế trong và ngoài nước tại thời điểm đó(6).


[6] Xem phụ lục 6.

3. Bình luận việc thực hiện chính sách tiền tệ tác động tới tỷ giá hối đoái trong bài báo được nêu trên.

Theo biểu đồ tại phụ lục 6, thị trường ngoại hối năm 2017 trải qua một năm “lặng sóng”, tỷ giá USD/VND biến động với biên độ nhỏ bất chấp biến động của đồng dollar Mỹ và tình trạng cán cân thương mại thâm hụt trong 6 tháng đầu năm. Việc thực hiện chế độ tỷ giá trung tâm của Ngân hàng Nhà nước góp phần vào sự ổn định của tỷ giá. Sự biến động của tỷ giá USD/VND phù hợp với sự biến đổi của sức mạnh đồng dollar Mỹ (biến đổi cùng chiều), thể hiện tính thị trường của tỷ giá.

Bên cạnh đó, Ngân hàng nhà nước tiếp tục duy trì chênh lệch lãi suất tiền gửi đối với USD và VND, nghiêng về phía VND, khiến cho việc nắm giữ VND thu được nhiều lợi ích hơn, giảm tỷ lệ nắm giữ USD trong dân, làm dự trữ ngoại tệ của Nhà nước tăng lên.

Sáu tháng đầu năm 2017, Việt Nam nhập siêu 2,7 tỷ USD. Điều này gây áp lực lên tỷ giá, để hạn chế tác động xấu của nhập siêu, thông thường ngân hàng trung ương sẽ điều chỉnh nâng tỉ giá. Tuy nhiên tỷ giá lại biến động với biên độ nhỏ, điều này cũng được giải thích bởi lượng kiều hối đổ về. Nếu như trước đây, kiều hối được gửi về nước để phục vụ sinh hoạt của người thân hoặc lãi suất tiền gửi USD của Việt Nam cao hơn thế giới, thì nay lượng kiều hối đổ về trong nước dưới dạng đầu tư ngày càng tăng lên. Minh chứng rõ nét là kể từ năm 2016, lãi suất tiền gửi đối với USD đã giảm về mức 0% nhưng lượng kiều hối gửi về ngày càng tăng. Chứng tỏ rằng nỗ lực cải thiện môi trường kinh doanh, cải thiện độ an toàn của hoạt động tín dụng, công tác tuyên truyền các đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với cộng đồng người Việt định cư ở nước ngoài đã phát huy kết quả. Trong thị trường mở, chế độ tỷ giá không cứng nhắc, tư bản tự do lưu thông thì kiều hối gửi về góp phần làm giảm áp lực đến tỷ giá, tác động làm giảm tỷ giá ngoại tệ, giúp tăng dự trữ ngoại hối.

Bên cạnh đó, chính sách tỷ giá trung tâm sẽ giảm bớt áp lực làm giảm dự trữ ngoại tệ do Ngân hàng Nhà nước phải tác động vào khi đồng tiền nội tệ mất giá, tăng tính độc lập và hiệu quả của chính sách tiền tệ.

Lãi suất VND trên thị trường tiền tệ và thị trường trái phiếu chính phủ, kết quả của hoạt động tái cơ cấu ngân hàng, tổ chức tín dụng cộng thêm hoạt động quản lý thị trường vàng cũng đã góp phần làm nên sự ổn định của tỷ giá USD/VND trong 6 tháng đầu năm 2017.

*******

KẾT LUẬN

Như vậy, chính sách tiền tệ của một quốc gia có tác động mạnh mẽ đến tỷ giá hối đoái của ngoại tệ với đồng nội tệ của quốc gia đó. Đối với Việt Nam, mục tiêu ưu tiên hàng đầu của chính sách tiền tệ là kiềm chế lạm phát, bên cạnh những mục tiêu tăng trưởng kinh tế, ổn định thị trường ngoại hối. Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc từng nhận định: “Không đánh đổi lạm phát cao lấy tăng trưởng kinh tế”. Chính sách tiền tệ của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay luôn theo sát mục tiêu đó. Lạm phát được kiềm chế, thị trường ngoại hối ổn định là điều kiện thuận lợi để nền kinh tế phát triển. Chính sách điều hành của Nhà nước đề cao sự linh hoạt, hạn chế những cú sốc là ảnh hưởng tới thị trường tiền tệ. Có thể nói, kể từ sau khủng hoảng tài chính năm 2008, việc sử dụng linh hoạt các công cụ điều chỉnh vĩ mô, trong đó có chính sách tiền tệ đã giúp nền kinh tế từng bước hồi phục vững chắc, tạo dựng niềm tin của công chúng và nhà đầu tư về đồng tiền Việt Nam, hệ thống ngân hàng cũng như cơ chế quản lý và điều hành của Nhà nước./.

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Nguyễn Thái Thảo Vy, Kinh tế vĩ mô, NXB Lao Động, TP Hồ Chí Minh, 07/2015.
  2. PSG.TS. Nguyễn Văn Luân, Kinh tế học vĩ mô (Macroeconomics), NXB Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Tp Hồ Chí Minh, 2012.
  3. TS. Nguyễn Thị Hiền (chủ biên), Giáo trình Kinh tế học đại cương, Nhà xuất bản Công an nhân dân, Hà Nội, 2002.
  4. TS. Chu Khánh Lân, Điều hành chính sách tiền tệ và định hướng trong năm 2018, http://tapchitaichinh.vn, Cơ quan chủ quản: Bộ Tài chính, http://tapchitaichinh.vn/nghien-cuu–trao-doi/trao-doi-binh-luan/dieu-hanh-chinh-sach-tien-te-va-dinh-huong-trong-nam-2018-135460.html, truy cập ngày 04/6/2019.
  5. Hoàng Vũ, Chốt năm 2017, tỷ giá USD/VND xuyên thủng cả chốt chặn,    http://vneconomy.vn, báo điện tử thuộc nhóm Thời báo Kinh tế Việt Nam, http://vneconomy.vn/chot-nam-2017-ty-gia-usd-vnd-xuyen-thung-ca-chot-chan-20171229211044968.htm, truy cập ngày 04/6/2019.
  6. Mai Phương, Tỷ giá và những bước chuyển bất ngờ, https://bnews.vn, Cơ quan chủ quản: Thông tấn xã Việt Nam, https://bnews.vn/ty-gia-va-nhung-buoc-chuyen-bat-ngo/67239.html, truy cập ngày 05/6/2019.
  7. Chu Thái, Tỷ giá và lãi suất tiếp tục ‘bình lặng’ cuối năm,  http://thoibaotaichinhvietnam.vn,  Thời báo Tài chính Việt Nam – Bộ Tài chính, http://thoibaotaichinhvietnam.vn/pages/tien-te-bao-hiem/2017-10-17/ty-gia-va-lai-suat-tiep-tuc-binh-lang-cuoi-nam-49240.aspx, truy cập ngày 06/6/2019.
  8. Nguyên Hương, 6 tháng đầu 2017: Dự trữ ngoại hối chỉ tăng 1 tỷ USD – Đồng đô la đã âm thầm đi đâu?, https://trithucvn.net,  Đơn vị chủ quản: TTV Media (Hoa Kì), https://trithucvn.net/kinh-te/6-thang-dau-nam-2017-du-tru-ngoai-hoi-chi-tang-them-1-ty-usd-dong-do-la-da-am-tham-doi-non-di-dau.html, truy cập ngày 09/6/2019.
  9.  Linh Nga, Ba nguyên nhân giữ tỷ giá ổn định trong năm 2017, http://enternews.vn, Báo Diễn đàn Doanh nghiệp – Cơ quan của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, http://enternews.vn/ba-nguyen-nhan-giu-ty-gia-on-dinh-trong-nam-2017-122806.html, truy cập ngày 11/6/2019.
  10. Nguyễn Thị Lan, Thị trường ngoại tệ Việt nam và sự điều tiết của Ngân hàng Nhà nước trong những năm gần đây, http://ieit.edu.vn, Trường Đại học Ngoại thương – Viện Kinh tế và Thương mại Quốc tế, http://ieit.edu.vn/vi/thu-vien-tap-chi/tap-chi-kinh-te-doi-ngoai/item/1008-th%E1%BB%8B-tr%C6%B0%E1%BB%9Dng-ngo%E1%BA%A1i-t%E1%BB%87-vi%E1%BB%87t-nam-v%C3%A0-s%E1%BB%B1-%C4%91i%E1%BB%81u-ti%E1%BA%BFt-c%E1%BB%A7a-ng%C3%A2n-h%C3%A0ng-nh%C3%A0-n%C6%B0%E1%BB%9Bc-trong-nh%E1%BB%AFng-n%C4%83m-g%E1%BA%A7n-%C4%91%C3%A2y, truy cập ngày 04/6/2019.
  11. TS. Nguyễn Thị Kim Thanh, Ba điểm nhấn điều hành chính sách tiền tệ, http://thoibaonganhang.vn, Thời báo Ngân hàng – Cơ quan của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, http://thoibaonganhang.vn/ba-diem-nhan-dieu-hanh-chinh-sach-tien-te-64592.html, truy cập ngày 02/6/2019.
  12. Minh Phương (Trí thức trẻ), 5 giải pháp cho chính sách tiền tệ từ nay đến cuối năm, http://cafef.vn, Đơn vị chủ quản: Công ty Cổ phần VCCorp, http://cafef.vn/5-giai-phap-cho-chinh-sach-tien-te-tu-nay-den-cuoi-nam-20170606160241439.chn, truy cập ngày 05/6/2019.
  13. Ngọc Khanh (Thời đại), Thị trường tiền tệ bất ngờ đảo chiều do đâu?,  http://cafef.vn, Đơn vị chủ quản: Công ty Cổ phần VCCorp, http://cafef.vn/thi-truong-tien-te-bat-ngo-dao-chieu-do-dau-20170522141515129.chn, truy cập ngày 06/62019.
  14. Mai Thu Hiền, Nhìn lại các biện pháp điều hành chính sách tiền tệ ở Việt Nam từ năm 2011 đến 2015, http://tapchiktdn.ftu.edu.vn, Tạp chí Kinh tế đối ngoại – Trường Đại học Ngoại thương, http://tapchiktdn.ftu.edu.vn/gi%E1%BB%9Bi-thi%E1%BB%87u/75-gi%E1%BB%9Bi-thi%E1%BB%87u-chung/1518-gi%E1%BB%9Bi-thi%E1%BB%87u-chung-v%E1%BB%81-t%E1%BA%A1p-ch%C3%AD.html, truy cập ngày 05/6/2019.
  15. Nguyễn Văn Giàu, Chính sách tiền tệ năm 2010 góp phần ổn định vĩ mô, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và kiềm chế lạm phát, http://www.tapchicongsan.org.vn, Tạp chí Cộng sản – Cơ quan lý luận và chính trị của trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, http://www.tapchicongsan.org.vn/Home/Tieu-diem/2010/1798/Chinh-sach-tien-te-nam-2010-gop-phan-on-dinh-vi-mo.aspx, truy cập ngày 05/6/2019.
  16. LG-MT, Chính sách tiền tệ những cơ hội, thách thức, kỳ vọng năm 2018, https://www.sbv.gov.vn, Cổng thông tin điện tử Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, https://www.sbv.gov.vn/webcenter/portal/vi/menu/trangchu/ttsk/ttsk_chitiet?centerWidth=80%25&dDocName=SBV338190&leftWidth=20%25&rightWidth=0%25&showFooter=false&showHeader=false&_adf.ctrl-state=iiscrg2uu_9&_afrLoop=14959763656186577#%40%3F_afrLoop%3D14959763656186577%26centerWidth%3D80%2525%26dDocName%3DSBV338190%26leftWidth%3D20%2525%26rightWidth%3D0%2525%26showFooter%3Dfalse%26showHeader%3Dfalse%26_adf.ctrl-state%3Dy3unt5z6c_41, truy cập ngày 05/6/2019.
  17. Vũ Xuân Thanh, Những kết quả nổi bật về điều hành tỷ giá giai đoạn 2011-2015, https://www.sbv.gov.vn, Cổng thông tin điện tử Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, https://www.sbv.gov.vn/webcenter/portal/vi/menu/fm/ddnhnn/nctd/nctd_chitiet?centerWidth=80%25&dDocName=SBVWEBAPP01SBV077719&leftWidth=20%25&rightWidth=0%25&showFooter=false&showHeader=false&_adf.ctrl-state=bvbgejesp_9&_afrLoop=14956997064749095#%40%3F_afrLoop%3D14956997064749095%26centerWidth%3D80%2525%26dDocName%3DSBVWEBAPP01SBV077719%26leftWidth%3D20%2525%26rightWidth%3D0%2525%26showFooter%3Dfalse%26showHeader%3Dfalse%26_adf.ctrl-state%3Dy3unt5z6c_4, truy cập ngày 05/6/2019.
  18.  Ngọc Châu, Chính sách tiền tệ 2010: Cân bằng lạm phát và tăng trưởng, https://vnexpress.net, Báo VnExpress, https://vnexpress.net/kinh-doanh/chinh-sach-tien-te-2010-can-bang-lam-phat-va-tang-truong-2703173.html, truy cập ngày 07/6/2019.
  19. Hà Nam, Năm 2010: NHNN thực hiện tốt chính sách tiền tệ, tín dụng, http://www.taichinhdientu.vn, Cơ quan chủ quản: Bộ Tài chính, http://www.taichinhdientu.vn/ngan-hang/nam-2010-nhnn-thuc-hien-tot-chinh-sach-tien-te-tin-dung-104433.html, truy cập ngày 06/62019.
  20. GS, TS. Trần Thọ Đạt – PGS, TS. Đặng Ngọc Đức, Chính sách tiền tệ giai đoạn 2011-2015 và những tác động tới nền kinh tế, http://kinhtevadubao.vn, Báo Kinh tế và dự báo – Cơ quan của Bộ Kế hoạch và đầu tư, http://kinhtevadubao.vn/chi-tiet/101-5229-chinh-sach-tien-te-giai-doan-2011-2015-va-nhung-tac-dong-toi-nen-kinh-te.html, truy cập ngày 08/6/2019.
  21. Nguyễn Long, 8 kết quả nổi bật trong chính sách tiền tệ NHNN năm 2017, http://enternews.vn, Báo Diễn đàn Doanh nghiệp – Cơ quan của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, http://enternews.vn/8-ket-qua-noi-bat-trong-chinh-sach-tien-te-nhnn-nam-2017-123214.html, truy cập ngày 12/6/2019.

Các bạn có thể tải bản full tại đây.

Nguyen Trung

BÀI VIẾT LIÊN QUAN

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Read also x