Yêu luật là trang web trả lời mọi thắc mắc của bạn về pháp luật.

Post Widget 1

Heath Tips

  • In enim justo, rhoncus ut, imperdiet a
  • Fringilla vel, aliquet nec, vulputateDonec pede justo,  eget, arcu. In enim justo, rhoncus ut, imperdiet a, venenatis vitae, justo.Nullam dictum felis eu pede mollis pretium.

Post Widget 2

Tiểu luận môn Luật Dân sự: “phân tích nội dung của một trong các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự, đồng thời chỉ ra sự thể hiện của nguyên tắc này trong các quy định của BLDS năm 2015”

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU

NỘI DUNG

1.    Nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết trong Bộ luật dân sự 2015.

2.    Nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận trong lịch sử lập pháp Việt Nam.

2.1.   Nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận trong Bộ luật dân sự 1995.

2.2.   Nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận trong Bộ luật dân sự 2005.

2.3.   Điểm mới của Bộ luật dân sự 2015 về nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận.

3.    Sự thể hiện của nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận trong Bộ luật dân sự 2015.

KẾT LUẬN.

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

MỞ ĐẦU

Nước Việt Nam tính từ khi giành được độc lập và thống nhất đã đến nay đã có ba bộ luật dân sự là Bộ luật dân sự 1995, Bộ luật dân sự 2005 và Bộ luật dân sự 2015. Đó là thành tựu mà nền lập pháp non trẻ của nước Việt Nam đã đạt được. Mỗi bộ luật ra đời để giải quyết những yêu cầu cấp thiết trong đời sống dân sự đương thời. Khi đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình, điều kiện kinh tế xã hội có sự chuyển biến, bộ luật dân sự mới ra đời.

Bộ luật dân sự 2015 được Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII thông qua ngày 24/11/2015 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2017), thay thế Bộ luật dân sự 2005. Sau gần 10 năm thi hành, Bộ luật dân sự 2005 đã đóng góp vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh các quan hệ pháp luật dân sự. Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm, Bộ luật dân sự 2005 ngày càng bộc lộ nhiều bất cập, khuyết điểm, thiếu những quy định quan trọng để điều chỉnh các quan hệ xã hội, một số quy định còn chịu ảnh hưởng của pháp luật hành chính. Chính vì vậy, yêu cầu tất yếu phải sửa đổi, bổ sung. Bộ luật dân sự 2015 ra đời mang trong mình những thay đổi cả về nội dung và hình thức. Tuy nhiên, cũng như các bộ luật dân sự thời hiện đại, cả ba bộ luật dân sự của Việt Nam đều tuân thủ một số nguyên tắc nhất định, trong đó nguyên tắc không thể thiếu là tự do, tự nguyên cam kết, thỏa thuận. Ba bộ luật dân sự ra đời gắn liền với sự pháp triển của nền lập pháp nước ta, nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận theo đó mà cũng được quy định ít nhiều khác nhau. Nhận thấy tầm quan trọng của nguyên tắc này đối với pháp luật dân sự nói chung và Bộ luật dân sự 2015 nói riêng, em quyết định lựa chọn chủ đề bài tập học kì môn luật dân sự: “phân tích nội dung của một trong các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự, đồng thời chỉ ra sự thể hiện của nguyên tắc này trong các quy định của BLDS năm 2015” để giải quyết vấn đề nhận thức và thực tiễn xoay quanh nguyên tắc này.

NỘI DUNG

1. Nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết trong Bộ luật dân sự 2015.

Theo Điều 3 Bộ luật dân sự năm 2015 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự là:

  • Mọi cá nhân, pháp nhân đều bình đẳng, không được lấy bất kỳ lý do nào để phân biệt đối xử; được pháp luật bảo hộ như nhau về các quyền nhân thân và tài sản.
  • Cá nhân, pháp nhân xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của mình trên cơ sở tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận. Mọi cam kết, thỏa thuận không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội có hiệu lực thực hiện đối với các bên và phải được chủ thể khác tôn trọng.
  • Cá nhân, pháp nhân phải xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của mình một cách thiện chí, trung thực.
  • Việc xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự không được xâm phạm đến lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác.
  • Cá nhân, pháp nhân phải tự chịu trách nhiệm về việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ dân sự.

Khác với các ngành luật khác, nguyên tắc làm nên đặc trưng của ngành luật dân sự là nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận. Được ví như là “Hiến pháp” trong lĩnh vực luật tư, luật dân sự điều chỉnh những quan hệ tài sản và quan hệ nhân thân hình thành trên cơ sở bình đẳng, tự do ý chí, độc lập về tài sản và tự chịu trách nhiệm, tức là các quan hệ thuộc lĩnh vực luật tư; luật dân sự làm khung cho một số ngành luật cụ thể khác như hôn nhân và gia đình, luật thương mại… và khi có sự xung đội giữa các quy định của các luật này thì áp dụng quy định của Bộ luật dân sự. Từ đó có thể thấy bản chất của luật dân sự khác hẳn với các ngành luật thuộc hệ thống luật công khác. Vì vậy nguyên tắc cơ bản của luật dân sự phải tôn trọng sự bình đẳng trong quan hệ giữa các chủ thể với nhau. Chính vì thế, đại đa số các bộ luật dân sự hiện hành trên thế giới đều tuân theo nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận. Bộ luật dân sự 2015 của Việt Nam cũng không ngoại lệ. Nguyên tắc này được ghi nhận tại khoản 2 Điều 3 Bộ luật dân sự 2015.

Theo nguyên tắc này thì Nhà nước thừa nhận, tôn trọng sự tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận làm xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các cá nhân, pháp nhân khi tham gia quan hệ pháp luật dân sự. Phần lớn các quan hệ trong đời sống dân sự được thực hiện thông qua hình thức cam kết, thỏa thuận, vì vậy, nguyên tắc này được quy định một trọng những nguyên tắc hàng đầu trong các nguyên tắc cơ bản của luật dân sự, nhấn mạnh việc áp dụng nguyên tắc này trong các giao dịch dân sự của đời sống xã hội.

Không chỉ có Nhà nước thừa nhận, tôn trọng, mà các chủ thể khác cũng phải có nghĩa vụ có nghĩa vụ tôn trọng sự tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận của các cá nhân, pháp nhân làm phát sinh, chấm dứt, thay quan hệ pháp luật dân sự. Cá nhân, pháp nhân hay thậm chí là các cơ quan Nhà nước không được áp đặt, cấm đoán, cưỡng ép, đe dọa hay ngăn cản cá nhân, pháp nhân khác tự do thể hiện ý chí của mình trong đời sống dân sự. Mọi hành vi can thiệp, áp đặt, cấm đoán, cưỡng ép, đe dọa hay ngăn cản đều làm cho quan hệ pháp luật dân sự giữa các bên có thể không phát sinh, thay đổi, chấm dứt, hay là giao dịch dân sự không được xác lập trên cơ sở tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận có thể vô hiệu. Tuy nhiên, giao dịch dân sự vô hiệu hay không phụ thuộc nhiều vào sự tự do ý chí, tự nguyện của chủ thể.

Tôn trọng sự tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận chính là tôn trọng sự tự do về mặt ý chí của cá nhân, pháp nhân. Các chủ thể hoàn toàn tự quyết việc lựa chọn có tham gia hay không tham gia các giao dịch dân sự; tự do lựa chọn đối tác; được tự do lựa chọn hình thức, nội dung của giao dịch dân sự, trừ những trường hợp phải tuân thủ quy tắc về hình thức của giao dịch dân sự đó, tuy nhiên, ý chí của các chủ thể phù hợp với đạo đức xã hội, phù hợp với tinh thần của pháp luật thì vẫn được tôn trọng; có quyền thay đổi, tạm đình chỉ hay hủy bỏ việc thực hiện cam kết, thỏa thuận xuất phát từ lợi ích của mình và phù hợp với lợi ích của đối tác và người thứ ba. Đặc biệt, các chủ thể có quyền hòa giải, tự giải quyết các tranh chấp hoặc yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền bảo vệ quyền lợi của mình khi bị xâm phạm. Điều này hoàn toàn khác với luật hình sự, trong pháp luật hình sự không có sự “thỏa thuận” về trách nhiệm pháp lí như trong trách nhiệm dân sự[1].

Tuy nhiên, chỉ tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận thôi là chưa đủ để mọi giao dịch dân sự có hiệu lực mà nội dung của cam kết, thỏa thuận không được vi phạm điều cấm của luật và/hoặc không trái đạo đức xã hội mới có hiệu lực. Có thể nói, sự tự của các chủ thể đã bị hạn chế, Nhà nước đã ít nhiều áp đặt ý chí của mình vào cam kết, thỏa thuận của các cá nhân và pháp nhân, tuy nhiên, điều này nhằm để phòng ngừa từ trước những cam kết, thỏa thuận làm xâm hại tới các quan hệ pháp luật mà Nhà nước bảo vệ, hoàn toàn phù hợp với tinh thần của pháp luật hiện đại: quyền của chủ thể này là giới hạn sự tự do của chủ thể khác. Cam kết, thỏa thuận hợp pháp là cơ sở phát sinh hiệu lực pháp lí đối với các quan hệ pháp luật dân sự của các chủ thể tham gia. Các cam kết, thỏa thuận này yêu cầu các bên chủ thể phải thực hiện theo đúng nội dung đã thỏa thuận, không được vi phạm như thay đổi, thực hiện không đúng hoặc không thực hiện các nội dung đó. Các chủ thể không tham gia vào các quan hệ pháp luật dân sự này cũng có trách nhiệm tôn trọng các thỏa thuận đã phát sinh hiệu lực pháp luật.


[1] PGS. TS. Nguyễn Văn Cừ – PGS. TS. Trần Thị Huệ (đồng chủ biên), Bình luận khoa học Bộ luật dân sự năm 2015 của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, NXB. Công an nhân dân, Hà Nội, 2017, trang 15.

2. Nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận trong lịch sử lập pháp Việt Nam.

Nhìn lại lịch sử hình thành và phát triển, luật dân sự Việt Nam ngày càng phát triển theo hướng độc lập và có hệ thống, từ những quy định được đan xen, lồng ghép trong các bộ luật thời cận đại mà nội dung chủ yếu là về hình sự, hành chính, đến thời Pháp thuộc, nước ta có ba bộ dân luật được áp dụng tại ba miền; trong suốt hai cuộc trường kỳ kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ và đấu tranh bảo vệ chủ quyền lãnh thổ và lãnh hải, ưu tiên lúc đó là tập trung cho công cuộc kháng chiến kiến quốc, luật dân sự cũng có một số bước tiến nhưng vẫn còn thiếu các quy định quan trọng, và vẫn còn nằm rải rách trong các luật, pháp lệnh đơn lẻ. Bước vào thời kì Đổi mới, nhận thấy sự cần thiết phải có một văn bản hợp nhất để điều chỉnh các mối quan hệ xã hội thuộc lĩnh vực dân sự, Quốc hội khóa IX ban hành Bộ luật dân sự 1995 – bộ luật dân sự đầu tiên của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Theo thời gian và xuất phát từ nhu cầu của xã hội, đến nay, Việt Nam đã ban hành thêm hai Bộ luật dân sự 2005 và Bộ luật dân sự 2015, trong đó, Bộ luật dân sự 2015 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2017, thay thế cho Bộ luật 2005. Cả ba bộ luật dân sự của Việt Nam thời hiện đại đều quy định về nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận với nội dung tương tự như đã nêu ở trên. Tuy nhiên, mỗi bộ luật lại có một cách quy định khác nhau về nguyên tắc này.

2.1. Nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận trong Bộ luật dân sự 1995.

Bộ luật dân sự 1995 dành chương I của phần thứ nhất để quy định về các nguyên tắc cơ bản của bộ luật dân sự. Nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận được quy định tại Điều 7. Đây là lần đầu tiên nguyên tắc này được quy định cụ thể trong Bộ luật dân sự nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Tuy nhiên, nguyên tắc này được xếp sau các nguyên tắc về pháp chế, bảo vệ truyền thống đạo đức, tôn trọng, bảo vệ quyền con người, quyền sở hữu. Tuy nhiên, nguyên tắc này lại được xếp đầu tiên, ở trước những nguyên tắc có thể nói là đặc trưng của luật dân sự như nguyên tắc bình đẳng, nguyên tắc thiện chí trung thực, nguyên tắc chịu trách nhiệm dân sự… Vì là bộ luật dân sự đầu tiên nên khi soạn thảo, ban hành không tránh được một số hạn chế nhất định về tư duy pháp lý, ngôn ngữ lập pháp, còn mang một số sắc màu của luật hành chính do ảnh hưởng của thời kì bao cấp… Theo Điều 7 Bộ luật dân sự 1995: “Quyền tự do cam kết, thoả thuận phù hợp với quy định của pháp luật trong việc xác lập quyền, nghĩa vụ dân sự được pháp luật bảo đảm. Trong giao lưu dân sự, các bên hoàn toàn tự nguyện, không bên nào được áp đặt, cấm đoán, cưỡng ép, đe doạ, ngăn cản bên nào. Mọi cam kết, thoả thuận hợp pháp có hiệu lực bắt buộc thực hiện đối với các bên.”, như vậy, về cơ bản thì nội dung của nguyên tắc về cơ bản là giống với quy định của pháp luật hiện hành. Tuy nhiên, quy định “Quyền tự do cam kết, thoả thuận phù hợp với quy định của pháp luật trong việc xác lập quyền, nghĩa vụ dân sự được pháp luật bảo đảm” thể hiện sự cứng nhắc trong tư duy pháp lý của nhà lập pháp. Phải hiểu “phù hợp với quy định của pháp luật” là “chỉ được thực hiện những gì mà pháp luật cho phép” hay là “được thực hiện những gì mà pháp luật không cấm”, điều này còn có nhiều ý kiến, quan điểm trái chiều, nhưng cách viết trên có thể làm cho một bộ phận các chủ thể trong xã hội hiểu rằng họ chỉ có quyền tự do, cam kết, thỏa thuận với nội dung mà pháp luật cho phép. Điều này vô hình chung làm cho nhiều giao dịch dân sự không được thực hiện dù được xác lập dự trên sự tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận do pháp luật bấy giờ chưa quy định. Mà nội dung của các giao dịch dân sự trong đời sống thì vô cùng phong phú và đa dạng. Dù ít dù nhiều thì quy định trên cũng làm cho pháp luật dân sự có phần “lạc hậu” so với sự phát triển của xã hội, thậm chí là ngăn cản sự tiến bộ của xã hội.

2.2. Nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận trong Bộ luật dân sự 2005.

Bộ luật dân sự 2005 ra đời để thay thế cho Bộ luật dân sự 1995. Bộ luật dân sự 2005 đã sửa chữa một số khuyết điểm của bộ luật trước và mang một số tiến bộ. Cụ thể, bỏ lời nói đầu, thay vào đó là căn cứ ban hành Bộ luật, đánh số chương từ đầu đến cuối, loại bỏ một số điều luật, quy định thuộc luật hành chính… Đối với các nguyên tắc cơ bản của Bộ luật, có những thay đổi sau: được quy định trong chương II, một số nguyên tắc được rút gọn vì trùng lặp, chồng chéo, các nguyên tắc đặc trưng cơ bản được ưu tiên xếp đầu tiên, và đặc biệt, nguyên tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận được đẩy lên đầu chương “những nguyên tắc cơ bản”. So với Bộ luật dân sự 1995, việc sắp xếp thứ tự những nguyên tắc cơ bản là hợp lý hơn, khẳng định sự đổi mới, cải cách, tiến bộ của bộ luật mới lúc bây giờ. Việc sắp xếp này không đơn thuần là sự thay đổi vị trí, mà còn thể hiện thứ tự ưu tiên, tầm quan trọng của các nguyên tắc này tác động tới các quy định của Bộ luật dân sự. Không chỉ về hình thức, về nội dung của nguyên tắc này có một số thay đổi.

  • Điều 4 Bộ luật dân sự 2005 quy định:

“Quyền tự do cam kết, thoả thuận trong việc xác lập quyền, nghĩa vụ dân sự được pháp luật bảo đảm, nếu cam kết, thoả thuận đó không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội.

Trong quan hệ dân sự, các bên hoàn toàn tự nguyện, không bên nào được áp đặt, cấm đoán, cưỡng ép, đe doạ, ngăn cản bên nào.

Cam kết, thoả thuận hợp pháp có hiệu lực bắt buộc thực hiện đối với các bên và phải được cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác tôn trọng.”.

Tinh thần của điều luật này về cơ bản là giống Điều 7 Bộ luật dân sự 1995. Tuy nhiên, ngôn ngữ lập pháp đã thay đổi, quy định “quyền tự do cam kết, thoả thuận phù hợp với quy định của pháp luật trong việc xác lập quyền, nghĩa vụ dân sự được pháp luật bảo đảm.” đã được sửa thành “quyền tự do cam kết, thoả thuận trong việc xác lập quyền, nghĩa vụ dân sự được pháp luật bảo đảm, nếu cam kết, thoả thuận đó không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội.”. Rõ ràng “không vi phạm điều cấm của pháp luật” có ý nghĩa khác hẳn “phù hợp với quy định của pháp luật”. Điều này thể hiện pháp luật dân sự của Việt Nam thay đổi theo hướng “mở” hơn, tư duy pháp lý của nhà làm luật, của các chủ thể quản lý đã có sự chuyển biến, từ “các chủ thể được phép thực hiện những điều pháp luật cho phép” thành “các chủ thể được phép thực hiện những điều pháp luật không cấm”, đây là tư duy tiến bộ, phù hợp với xu thế phát triển của pháp luật thế giới. Ngoài ra, Bộ luật dân sự 2005 còn bổ sung thêm điều kiện của sự tự do, tự nguyên cam kết, thỏa thuận ở trong Điều 4 là “không trái đạo đức xã hội.”, chính những sự thay đổi này đã sửa chữa một lỗ hổng lớn của pháp luật đây pháp luật, khuyến khích, thúc đẩy, tăng cường sự tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận giữa các chủ thể trong xã hội nhằm làm phát sinh, chấm dứt, thay đổi các quan hệ dân sự với nhau.

2.3. Điểm mới của Bộ luật dân sự 2015 về nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận.

Sau gần 10 năm thi hành, Bộ luật dân sự 2005 đã phát huy hiệu quả điều chỉnh các quan hệ dân sự, tạo cơ sở pháp lý để cá nhân, pháp nhân, tổ chức khác thực hiện và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Bên cạnh đó, Bô luật dân sự đã bộc lộ một số mâu thuẫn, bất cập, đặt ra nhu cầu sửa đổi, bổ sung. Trên cơ sở đó, Quốc hội khóa XIII nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành Bộ luật dân sự 2015, là bộ luật dân sự hiện hành, có hiệu lực từ ngày 01/01/2017.

So với Bộ luật dân sự 2005, Bộ luật dân sự 2015 có nhiều điểm mới cả về nội dung lẫn hình thức, trong đó phần thứ nhất về các quy định chung, Bộ luật dân sự 2015 có nhiều điểm mới. Trong phần này, các nguyên tắc cơ bản được quy định ở trong Điều 3 chứ không tách thành các điều luật riêng, và cũng không có chương riêng để quy định những nguyên tắc này. Điểm tiến bộ của Bộ luật dân sự 2015 là đặt tên cho các quy định ở Điều 3 là “các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự”. Như vậy, các nguyên tắc cơ bản không chỉ đương nhiên được áp dụng cho các vấn đề nêu trong Bộ luật dân sự mà còn cho cả vấn đề khác được nêu trong văn bản khác khi thuộc “pháp luật dân sự”[2]. Quy định này đã mở rộng phạm vi điều chỉnh của Bộ luật dân sự 2015, thể hiện rõ nét hơn vai trò luật chung của lĩnh vực luật tư, hạn chế tranh cãi không cần thiết.

Hoàn toàn có thể nhận thấy sự thu hẹp về số lượng các nguyên tắc cơ bản. Nhiều quy định được bỏ hẳn như nguyên tắc tuân thủ pháp luật, một số quy định được giữ lại tinh thần nhưng không còn được xem là nguyên tắc nữa, ví dụ nguyên tắc hòa giải, căn cứ xác lập quyền, nghĩa vụ dân sự. Điều 3 giữ lại những nguyên tắc đặc trưng, phổ biến của pháp luật dân sự, trong đó, đáng chú ý là nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận được quy định tại khoản 2, sau nguyên tắc “mọi cá nhân, pháp nhân đều bình đẳng, không được lấy bất kỳ lý do nào để phân biệt đối xử; được pháp luật bảo hộ như nhau về các quyền nhân thân và tài sản” (nguyên tắc bình đẳng). Lý giải về cách sắp xếp này, có khả năng nhà làm luật cho rằng, nguyên tắc bình đẳng là điều kiện cần cho mọi quan hệ dân sự, chỉ các chủ thể bình đẳng với nhau thì sự tự do, tự nguyên cam kết thỏa thuận mới có ý nghĩa. Vì vậy, cách sắp xếp này không phải là hạ thấp giá trị của nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận mà là một bước để đảm bảo cho nguyên tắc này được thực hiện nghiêm túc hơn, thực chất hơn.

Nguyên tắc tại khoản 2 Điều 3 Bộ luật dân sự 2015 là sự kế thừa của nguyên tắc quy định tại Điều 4 Bộ luật dân sự 2005. Về mặt câu chữ thì quy định mới rút gọn lại nhưng nội dung thì không thay đổi, trái lại còn có phần nào mở rộng, khuyến khích sự tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận. Bộ luật dân sự mới diễn đạt quy định bằng câu chủ động, khuyến khích sự tùy nghi của các chủ thể “cá nhân, pháp nhân xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của mình trên cơ sở tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận”. Bộ luật 2005 dùng câu mang nghĩa bị động với các chủ thể khi quy định pháp luật bảo vệ quyền  tự do cam kết, thoả thuận nếu cam kết, thỏa thuận đó không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội. Bộ luật dân sự 2015 cũng quy định cam kết, thỏa thuận không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội nhưng đề cập cùng với hiệu lực thực hiện của cam kết, thỏa thuận và nghĩa vụ tôn trọng của các chủ thể khác. Chính câu thứ hai đã bao gồm cam kết của pháp luật trong việc bảo đảm cho hiệu lực thực hiện của các cam kết, thỏa thuận được xác lập dựa trên nguyên tắc này. Không chỉ vậy, cũng như các điều luật khác, khoản 2 Điều 3 quy định rõ chủ thể được điều chỉnh bởi các nguyên tắc là “cá nhân, pháp nhân”, cụ thể hóa hơn quy định “các bên”, đảm bảo cho sự thống nhất của Bộ luật.


[2] PGS. TS. Đỗ Văn Đại (chủ biên), Bình luận khoa học những điểm mới của Bộ luật dân sự 2015, NXB. Hồng Đức – hội Luật gia Việt Nam, Hà Nội, 2016, trang 21.

3. Sự thể hiện của nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận trong Bộ luật dân sự 2015.

Là một trong những nguyên tắc cơ bản, đặc thù của pháp luật dân sự, nguyên tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận được thể hiện ở hầu hết các chế định trong Bộ luật dân sự 2015: cá nhân, pháp nhân, tài sản, giao dịch dân sự, quyền sở hữu và quyền khác đối với tài sản, thừa kế, nghĩa vụ và hợp đồng… Vì thế, sau đây, bài viết chỉ làm rõ sự hiện diện và chi phối của nguyên tắc này trong một số điều luật, chế định sau đây:

Trước hết, nguyên tắc tự do, tự nguyên cam kết, thỏa thuận được thể hiện rõ nét trong các điều luật, chế định của Bộ luật dân sự 2015. Tại Điều 4, 5, 6 quy định về áp dụng Bộ luật, áp dụng tập quán, áp dụng tương tự pháp luật, luôn có điều khoản quy định về việc tôn trọng các quy định tại Điều 3 Bộ luật dân sự 2015, trong đó có nguyên tắc tự do, tự nguyên cam kết, thỏa thuận. Điều 7[3] thể hiện chính sách của Nhà nước đối với quan hệ dân sự, trong đó khuyến khích các bên tự hòa giải, mà khi đã có tranh chấp, sự hòa giải giữa các bên chỉ có thể thực hiện dựa trên nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận. Và như đã đề cập ở phần 1, tự hòa giải giữa các bên chính là một nội dung của nguyên tắc này. Tương tự, quy định chung về bồi thường thiệt hại tại Điều 13[4] cũng tôn trọng sự thỏa thuận giữa các bên.

Trong chế định cá nhân, nguyên tắc tự do, tự nguyên cam kết, thỏa thuận được thể hiện trong việc xác định họ của con (con đẻ, con nuôi) được quy định tại khoản 1 và 2 Điều 26; xác định dân tộc của con đẻ, con nuôi theo thỏa thuận của cha mẹ đẻ, cha mẹ nuôi (khoản 2 Điều 29); thỏa thuận về trả thù lao cho người có hình ảnh mà hình ảnh được chủ thể khác sử dụng vì mục đích thương mại (khoản 1 Điều 32); quy định tại khoản 4 Điều 38[5].

Theo khoản 1 Điều 43 Bộ luật dân sự 2015 thì luật quy định “nơi cư trú của vợ, chồng là nơi vợ, chồng thường xuyên chung sống”, đó là lẽ thường tình. Tuy nhiên, trong xã hội hiện đại, vì nhiều nguyên nhân khác nhau mà vợ, chồng có nơi cư trú khác nhau. Vì vậy, pháp luật không cứng nhắc mà cho phép “vợ chồng có thể có nơi cư trú khác nhau nếu có thỏa thuận”. Tức là tuân thủ nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận. Hai điều luật ở mục giám hộ đề cập tới sự thỏa thuận là khoản 1 Điều 51 về cử người giám sát việc giám hộ, và Điều 52 về xác định người giám hộ đương nhiên cho người chưa thành niên được quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều 47. Tinh thần chung của hai điều luật này là việc cử người giám sát việc giám hộ, xác

định người giám hộ đương nhiên sẽ ưu tiên được thực hiện theo thỏa thuận của các cá nhân được quy định, nếu không đạt được thỏa thuận thì sẽ tiến hành theo luật định.

Điểm b, khoản 1 Điều 100 Bộ luật dân sự 2015, quy định về một trong các trường hợp Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cơ quan nhà nước ở Trung ương, ở địa phương chịu trách nhiệm về nghĩa vụ dân sự do mình xác lập với nhà nước, pháp nhân, cá nhân nước ngoài:

“Các bên trong quan hệ dân sự có thỏa thuận từ bỏ quyền miễn trừ”:

Luật quốc tế và luật quốc gia phần lớn đều thừa nhận tư cách chủ thể đặc biệt của quốc gia khi tham gia và mối quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài[6]. Khi tham gia vào các quan hệ tư pháp quốc tế, quốc gia được hưởng các quyền miễn trừ của quốc gia nhằm bảo vệ lợi ích quốc gia. Đặc trưng của quan hệ dân sự là sự tự do ý chí nên Nhà nước, cơ quan nhà nước Việt Nam trong quan hệ với nhà nước, pháp nhân, cá nhân nước ngoài thì các bên được quyền thỏa thuận về việc từ bỏ quyền miễn trừ[7].

Đối với hộ gia đình, tổ hợp tác và tổ chức khác không có tư cách pháp nhân trong quan hệ dân sự, các thành viên có thể ủy quyền cho người đại diện tham gia xác lập, thực hiện giao dịch dân sự. “Việc ủy quyền phải được lập thành văn bản, trừ trường hợp có thỏa thuận khác” (khoản 1 Điều 101). Như vậy, các thành viên có thể tự do thỏa thuận với nhau về hình thức của ủy quyền; “Việc xác định tài sản chung của các thành viên của tổ chức khác không có tư cách pháp nhân, quyền, nghĩa vụ đối với tài sản này được xác định theo thỏa thuận của các thành viên, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác” (khoản 3 Điều 102); theo khoản 3 Điều 103 thì các bên có thể thỏa thuận với nhau về trách nhiệm dân sự của thành viên.


[3] Khoản 2 Điều 7 BLDS 2015 quy định: “Trong quan hệ dân sự, việc hòa giải giữa các bên phù hợp với quy định của pháp luật được khuyến khích”.

[4] Điều 13 BLDS 2015: “Cá nhân, pháp nhân có quyền dân sự bị xâm phạm được bồi thường toàn bộ thiệt hại, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác”.

[5] Khoản 4 Điều 38 BLDS 2015: “Các bên trong hợp đồng không được tiết lộ thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình của nhau mà mình đã biết được trong quá trình xác lập, thực hiện hợp đồng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác”.

[6] PGS. TS. Nguyễn Văn Cừ – PGS. TS. Trần Thị Huệ (đồng chủ biên), Bình luận khoa học Bộ luật dân sự năm 2015 của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, NXB. Công an nhân dân, Hà Nội, 2017, trang 194.

[7] Sđd, trang 195.

Trong giao dịch dân sự, khi chuyển giao vật chính, vật đồng bộ, thì các bên có thể thỏa thuận chỉ chuyển giao vật chính hoặc một số phần, một số bộ phận hợp thành. Tuy nhiên, nếu không có thỏa thuận thì bắt buộc phải chuyển giao vật chính cùng vật phụ, toàn bộ các phần hoặc các bộ phận hợp thành (Điều 110 và 114). Quy định này được đưa ra nhằm để tránh hành vi lừa dối, bất tín của một bên vì lợi ích bản thân mà không đáp ứng nhu cầu mà trong ý thức của bên còn lại là đáng lẽ phải có. Có thể giao dịch chuyển giao vật chính, vật đồng bộ được xác lập theo nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận, trong ý đồ của bên được chuyển giao cho rằng sẽ được chuyển giao cả vật chính vật phụ, đầy đủ vật đồng bộ, nhưng bên chuyển giao lại thực hiện hành vi chỉ chuyển giao một phần để kiếm lời, như vậy là trái với tinh thần của nguyên tắc tự do, tự nguyên cam kết, thỏa thuận (mỗi bên xác lập, thay đổi, chấm dứt cam kết, thỏa thuận xuất phát từ lợi ích của mình và phù hợp với lợi ích của đối tác và người thứ ba). Vì vậy, Bộ luật quy định “cứng” khi chuyển giao vật chính, vật đồng bộ, thì phải chuyển giao cả vật phụ, toàn bộ phần, bộ phận hợp thành vật đồng bộ, nếu trường hợp cụ thể, xuất phát từ nhu cầu của các bên thì pháp luật cho phép thỏa thuận chuyển giao một phần.

Đối với chế định giao dịch dân sự, nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết thỏa thuận được thể hiện ở quy định về điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự, trong đó có quy định “chủ thể tham gia giao dịch dân sự hoàn toàn tự nguyện”[8]. Tự nguyện là một điều kiện bắt buộc của mọi giao dịch dân sự, chủ thể tự do cả về mặt ý chí và hành vi, không bị ép buộc, đe dọa, lừa dối hay áp đặt; chủ thể tham gia giao dịch tự mình lựa chọn chủ thể tham gia, đối tượng của giao dịch, giá cả, địa điểm… Vì vậy, mọi hành vi can thiệp, ép buộc, đe dọa, lừa dối, áp đặt ý chí đều làm cho giao dịch dân sự có thể bị tuyên vô hiệu. “Mục đích và nội dung của giao dịch dân sự mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội”[9], cụ thể hơn là “mục đích của giao dịch dân sự là lợi ích mà chủ thể mong muốn đạt được khi xác lập giao dịch đó”[10], điều này phù hợp với tinh thần của nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận.


[8] Điểm b khoản 1 Điều 117 BLDS 2015.

[9] Điểm c khoản 1 Điều 117 BLDS 2015.

[10] Điều 118 BLDS 2015.

Không thể khẳng định rằng mọi giao dịch dân sự có dấu hiệu bị ép buộc, đe dọa, lừa dối, áp đặt ý chí đều vô hiệu. Thứ nhất, ngay tại Điều 122 quy định “giao dịch dân sự không có một trong các điều kiện được quy định tại Điều 117 của Bộ luật này thì vô hiệu, trừ trường hợp Bộ luật này có quy định khác”, thứ hai là nếu chủ thể của giao dịch dân sự biết được rằng bản thân bị lừa dối, đe dọa, ép buộc, áp đặt ý chí nhưng vẫn đồng ý xác lập giao dịch, không có ý kiến phản đối, không yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu thì giao dịch đó vẫn có hiệu lực. Sở di có thể kết luận như vậy là vì theo Điều 127: “khi một bên tham gia giao dịch dân sự do bị lừa dối hoặc bị đe dọa, cưỡng ép thì có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự đó là vô hiệu”, ở đây, chủ thể có quyền yêu cầu Tòa án tuyên vô hiệu nhưng chủ thể đã từ bỏ quyền đó để tiếp tục thực hiện giao dịch, đây chính là ý chí đích thực, hoàn toàn tự nguyện của chủ thể, Tòa án – đại diện của Nhà nước, phải có nghĩa vụ tôn trọng cam kết, thoản thuận “mới” của các bên, không có thẩm quyền chủ động tuyên giao dịch dân sự vô hiệu. Đây là một nét đặc trưng mà chỉ có pháp luật dân sự mới có.

Đối với điều kiện về hình thức của giao dịch dân sự, Bộ luật dân sự 2015 quy định “mềm” hơn, không cứng nhắc như Bộ luật dân sự 2005. Theo khoản 2 Điều 117 Bộ luật dân sự 2015 thì hình thức không phải là điều kiện bắt buộc để giao dịch dân sự có hiệu lực, tức là nếu pháp luật không có quy định thì chỉ cần giao dịch dân sự không vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 117 thì giao dịch đó hợp pháp và có hiệu lực, ngoài ra các bên hoàn toàn có thể tự thỏa thuận với nhau về hình thức của giao dịch dân sự. Trong trường hợp pháp luật quy định bắt buộc về hình thức của giao dịch dân sự nhưng chủ thể lại không tuân thủ, giao dịch dân sự đó vẫn có thể không  bị vô hiệu, căn cứ vào quy định của Điều 129:

“Giao dịch dân sự vi phạm quy định điều kiện có hiệu lực về hình thức thì vô hiệu, trừ trường hợp sau đây:

1. Giao dịch dân sự đã được xác lập theo quy định phải bằng văn bản nhưng văn bản không đúng quy định của luật mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó.

2. Giao dịch dân sự đã được xác lập bằng văn bản nhưng vi phạm quy định bắt buộc về công chứng, chứng thực mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó. Trong trường hợp này, các bên không phải thực hiện việc công chứng, chứng thực.”

Điều 129 phản ánh yêu cầu tôn trọng sự tự nguyện cam kết, thỏa thuận của các bên. Bởi vì, xét về bản chất, hình thức không phải là ý chí của các bên mà chỉ là phương tiện biểu đạt ý chí của các bên (như lời nói, hành vi, văn bản). Do đó, nếu phương tiện biểu đạt lại quyết định hủy bỏ kết quả của sự thỏa thuận,  tự nguyện cam kết của các bên thì ở góc độ nhất định, có thể hiểu tương ứng với sự không coi trọng, thậm chí là coi nhẹ ý chí của các bên. Chính vì vậy, cho dù hình thức của văn bản chưa được các bên tuân thủ theo đúng quy định của pháp luật nhưng các bên thực sự đã thống nhất ý chí, hoàn toàn tự nguyện và đã thực hiện theo sự thống nhất đó thì không nên áp đặt sự vô hiệu, chấm dứt hiệu lực đối với giao dịch dân sự họ đã xác lập[11]. Tuy nhiên, quy định bắt về hình thức của giao dịch dân sự là một phương thức để pháp luật bảo vệ một số loại giao dịch dân sự đặc thù, hình thức là do Nhà nước đặt ra, yêu cầu các chủ thể phải thực hiện, còn nội dung lại do các chủ thể quyết định thông qua sự tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận. Vì thế cũng có thể nói quy định bắt buộc về hình thức vẫn tuân thủ nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận. Điều 129 cũng chỉ ra rõ những điều kiện để giao dịch không tuân thủ quy định về hình thức không bị tuyên vô hiệu.

Ngoài ra thì nguyên tắc trên còn được thể hiện trong quy định về giao dịch dân sự có điều kiện (Điều 120) và thứ tự ưu tiên khi giải thích giao dịch dân sự “theo ý chí đích thực của các bên khi xác lập giao dịch” (điểm a khoản 1 Điều 121)…


[11] PGS. TS. Nguyễn Văn Cừ – PGS. TS. Trần Thị Huệ (đồng chủ biên), Bình luận khoa học Bộ luật dân sự năm 2015 của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, NXB. Công an nhân dân, Hà Nội, 2017, trang 257.

KẾT LUẬN

Nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận là nguyên tắc đặc trưng của pháp luật dân sự. Nguyên tắc này hiện diện trong rất nhiều điều luật, chế định của Bộ luật dân sự nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Trải qua thời gian, hình thức và nội dung của nguyên tắc này ít nhiều thay đổi, song, tinh thần của nguyên tắc này ở trong ba bộ luật dân sự của nước ta về cơ bản là không đổi, trái lại, phạm vi của nguyên tắc ngày càng được mở rộng, vị trí ngày càng được củng cố. Chính điều này làm cho nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận nổi lên là một trong những nguyên tắc hàng đầu, chi phối tới nội dung của pháp luật dân sự Việt Nam nói chung và Bộ luật dân sự 2015 nói riêng. Nguyên tắc này đã góp một phần không nhỏ vào việc nâng cao vao trò, vị trí của Bộ luật dân sự 2015 trong hệ thống pháp luật Việt Nam, trở thành luật chung điều chỉnh các quan hệ dân sự. Cùng với các nguyên tắc cơ bản khác được nêu tại Điều 3 Bộ luật dân sự 2015, nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận xây dựng hành lang pháp lý, tạo sự bình ổn và yên tâm để các chủ thể tự do tham gia vào các hoạt động dân sự trong cuộc sống, thúc đẩy tính sáng tạo, chủ động của các chủ thể khi tham gia vào các giao dịch dân sự.

Các vấn đề lý luận và thực tiễn xoay quanh nguyên tắc tự do, tự nguyên cam kết, thỏa thuận rất đa dạng và phong phú. Vì giới hạn của tiểu luận cũng như hạn chế về trình độ lý luận và kiến thức thực tế nên trong phạm vi bài viết chưa thể hiện đầy đủ và rõ ràng nội dung cần thiết, không tránh khỏi sai sót. Em mong nhận được sự góp ý của các thầy/cô để hoàn thiện kiến thức về bộ môn luật dân sự.

Em xin chân thành cảm ơn!

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Quốc hội Việt Nam, Bộ luật Dân sự nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, NXB. Chính trị quốc gia,Hà Nội, 1995.
  2. Quốc hội Việt Nam, Bộ luật dân sự, NXB. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005.
  3. Quốc hội Việt Nam, Bộ luật dân sự, NXB. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2015.
  4. PGS. TS. Nguyễn Văn Cừ – PGS. TS. Trần Thị Huệ (đồng chủ biên), Bình luận khoa học Bộ luật dân sự năm 2015 của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, NXB. Công an nhân dân, Hà Nội, 2017.
  5. PGS. TS. Đỗ Văn Đại (chủ biên), Bình luận khoa học những điểm mới của Bộ luật dân sự 2015, NXB. Hồng Đức – hội Luật gia Việt Nam, Hà Nội, 2016.
  6. TS. Lê Đình Nghị, Giáo trình luật dân sự Việt Nam tập một, NXB. Giáo dục Việt Nam, Hà Nội, 2009.
  7. Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội, Giáo trình luật dân sự Việt Nam tập I, NXB. Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà Nội, 2016.
  8. Nguyễn Minh Tuấn (chủ biên), Bình luận khoa học Bộ luật Dân sự của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, NXB. Tư pháp, Hà Nội, 2014.
  9. Nguyễn Minh Tuấn (chủ biên), Bình luận khoa học Bộ luật Dân sự của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2015, NXB. Tư pháp, Hà Nội, 2016.
  10. Nguyễn Minh Tuấn (chủ biên), Bình luận khoa học những điểm mới của Bộ luật Dân sự năm 2015, NXB. Tư pháp, Hà Nội, 2016.
  11. PGS. TS. Phạm Văn Tuyết, Hứng dẫn môn học luật dân sự tập 1, NXB. Tư pháp, Hà Nội, 2017.
  12. Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, Giáo trình những quy định chung về luật dân sự, NXB. Hồng Đức, Hà Nội, 2013.
  13. Trường Đại học Quốc gia Hà Nội, Giáo trình Luật dân sự Việt Nam : phần chung, NXB. Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 2002.
  14. Viện Đại học Mở Hà Nội: Khoa Luật, Giáo trình Luật Dân sự Việt Nam tập 1, NXB. Công an nhân dân, Hà Nội, 2002.

Các bạn download bản full tại đây.

Nguyen Trung

BÀI VIẾT LIÊN QUAN

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Read also x